5 tháng 4, 2017

Thủy sản ĐBSCL và câu chuyện “vỡ nợ”

Kỳ 1: Dễ tổn thương như doanh nghiệp thủy sản
Trần Lưu
Khoảng cuối tháng 10.2016, lãnh đạo Cty Thuận An (Tafishco - An Giang) ra nước ngoài rồi không trở về khiến ngân hàng và các hộ nông dân lâm vào cảnh điêu đứng. Câu chuyện “vỡ nợ” của các đại gia thủy sản một lần nữa đã đặt ra những yêu cầu bức thiết, đòi hỏi phải có giải pháp mạnh mẽ để thải loại những nhân tố vốn đã chết yểu trên “đường bơi” từ trước…
Loại bỏ các yếu tố do chủ doanh nghiệp lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, câu kết với cán bộ ngân hàng rút tiền tín dụng tiêu xài…; hiện tượng các đại gia cá tra vỡ nợ là một bài học vẫn còn nóng hổi, mà ở đó, những yếu kém nội tại đã tạo nên “tử huyệt” - để khi chỉ cần gặp khó khăn trong một đơn hàng, doanh nghiệp ngay lập tức điêu đứng…
Người nuôi cá tra năm nay được mùa giá, nhưng không ai dám chắc năm sau

Quá nhiều bất cập!
Khởi điểm từ cuối thập niên 90, con cá tra ĐBSCL đã lập nên những kỳ tích với mức tăng trưởng đáng kể qua từng năm, vươn lên đứng đầu thế giới, chiếm hơn 90% thị phần cá tra xuất khẩu toàn cầu. Thế nhưng, đằng sau ánh hào quang đó vẫn còn vô số những bất cập tạo nên căn bệnh trầm kha cho ngành thủy sản.
Có giai đoạn, số liệu thống kê chỉ ra rằng, trong 100% tăng thêm của tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, thì có đến hơn 80% là do tăng sản lượng tạo ra, chỉ khoảng 20% là do tăng giá. Sự phát triển nhanh theo chiều rộng đã giải quyết phần nào các mục tiêu kinh tế xã hội cục bộ trước mắt, nhưng chưa khẳng định được sự phát triển nổi trội về chất lượng sản phẩm dẫn đến hệ thống sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản chưa có khả năng đổi mới và đa dạng hóa mạnh mẽ các sản phẩm xuất khẩu nhằm tăng lợi thế cạnh tranh và đáp ứng những đòi hỏi của thị trường.
Bên cạnh đó là sự yếu kém trong công tác dự báo thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, các doanh nghiệp không xây dựng được chiến lược kinh doanh. Nhiều nhà máy chế biến lâm vào tình trạng dư thừa công suất khi được đầu tư rất lớn, nhưng khai thác chỉ đạt 50 - 70%, dẫn đến tăng chi phí sản xuất, giảm sức cạnh tranh trên thị trường… Điều này giải thích vì sao Việt Nam đang “một mình một chợ” trong xuất khẩu cá tra, nhưng lại không làm chủ được thị trường thế giới. Việc các doanh nghiệp cạnh tranh lẫn nhau đã làm giá cá tra sụt giảm, các nhà nhập khẩu thế giới biết được điều này nên luôn tìm cách ép giá.
Thời điểm con cá tra hay con tôm “lên đỉnh” đã kéo theo những hệ lụy do phát triển nóng, thiếu quy hoạch, mạnh ai nấy làm. Nhiều Cty, doanh nghiệp vốn kinh doanh trái ngành như đồ gỗ, dầu khí, nhà đất… cũng nhảy vào đầu tư kinh doanh thủy sản. Như một điều tất yếu, những đơn vị này không có kiến thức chuyên môn về ngành nghề mình đang kinh doanh, không biết quản trị Cty, quản lý dòng vốn, quản lý rủi ro… nên sau một vài phi vụ trúng quả, phất lên như diều gặp gió rồi cũng nhanh chóng vỡ nợ khi gặp khó khăn…
“Tử huyệt” tài chính
Nhìn lại mô hình liên kết nuôi cá tra ở An Giang sẽ thấy đây là một chủ trương đúng và đã mang lại hiệu quả rất khả quan trong 2 năm đầu triển khai thí điểm, song nó cũng bộc lộ không ít lổ hổng về quản lý. Ông Lê Văn Nưng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang - cho biết: “Lúc được chọn tham gia chuỗi liên kết, Cty Thuận An có đủ năng lực, nhưng có thể qua quá trình hoạt động, Cty gặp khó khăn nên mới xảy ra tình trạng như hiện nay”. Câu hỏi đặt ra lúc này là ai quản lý việc làm ăn của doanh nghiệp? Khi Thuận An mua cá của dân sẽ bán đi đâu? Nguồn tiền thu về như thế nào? Lời lỗ ra sao?... hầu như không ai biết.
Ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - cho rằng: Đằng sau ánh hào quang “vượt vũ môn” của loài “đế ngư” là cảnh lâm nợ, khốn đốn của nhiều người nuôi và doanh nghiệp cá tra xảy ra như có tính chu kỳ năm được, năm mất. Nguyên nhân được nhận diện là giá thị trường xuống thấp, thiếu vốn, hiệu ứng đôminô lây lan, thì người nuôi cá, doanh nghiệp, ngân hàng nợ nần dây chuyền, chiếm dụng vốn lẫn nhau.
Bên cạnh nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế, chật vật trong tìm đầu ra; phải kể đến “tử huyệt” của doanh nghiệp thủy sản là năng lực tài chính yếu kém, sử dụng chủ yếu vốn vay ngắn hạn, gặp lúc lãi suất tăng vọt, lợi nhuận làm ra không đủ trả lãi dẫn đến thua lỗ kéo dài. Nhiều doanh nghiệp thủy sản vừa phất lên, bỗng chốc “lâm bệnh nặng”. Một số chủ doanh nghiệp không có chuyên môn sâu trong ngành, lĩnh vực, đa phần khởi sự từ mua bán chuyển sang nghề nuôi, chế biến thủy hải sản. Nghiên cứu thị trường không kỹ và không am hiểu đầy đủ luật pháp của các nước nhập khẩu, chỉ cần một đơn hàng chậm thanh toán hoặc bị hủy thì doanh nghiệp gặp điêu đứng.
Khi gặp khó khăn thị trường, trong cơn khát vốn, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu làm ăn chụp giựt, đã tự làm khó mình và làm khó lẫn nhau khi liên tục chào bán cá tra với giá thấp để có tiền xoay vòng. Điều này đã tạo cho nhà nhập khẩu quyền xác lập giá trần. Ở nhiều thời điểm, giá cá tra xuất khẩu đã liên tục hạ gây bất lợi cho không chỉ doanh nghiệp, người nuôi mà còn làm suy yếu ngành cá tra Việt Nam. Đó chính là lý giải tại sao chúng ta nắm giữ độc quyền cung ứng cá tra cho cả thế giới tiêu dùng; nhưng “nhà độc quyền” lại không có quyền làm giá. Năng lực tài chính, quản trị và liên kết doanh nghiệp chính là “huyệt đạo” của ngành…

Kỳ 2. Để thủy sản không chết yểu trên “đường bơi”


Tài chính được xác định là “tử huyệt” của các doanh nghiệp thủy sản, nhưng ngay cả khi giải được bài toán này thì nó chỉ thỏa được điều kiện cần chứ chưa đủ. Cần có sự tiếp cận đa ngành, phối hợp hành động liên ngành trên bình diện tổng thể, xa hơn là giải quyết cục bộ chuyện nợ nần của từng doanh nghiệp.
Mạnh tay thải loại doanh nghiệp yếu
Ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - cho biết: Ngân hàng cho vay theo chuỗi cá tra, mặc dù tiếp cận đúng, nhưng chỉ mới giải quyết ở khâu cung ứng tín dụng dựa trên các phương thức hợp đồng mà trách nhiệm thường quy về bên yếu thế là người nuôi, phần đông là nông dân hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ. Khi xảy ra nợ nần, các tác nhân yếu thế này lãnh đủ.
Trong khi đó, việc nâng cao năng lực quản trị, tài chính và hoàn thiện chuỗi liên kết lại là vấn đề khác. Bên cạnh đó, cách tiếp cận này cũng chỉ sờ đến một công đoạn của chuỗi cá tra. Đó là người nuôi, doanh nghiệp chế biến kiêm xuất khẩu. Phần quan trọng nhất của con cá tra đang ở một phân ngành khác. Thực tế hiện nay, 80 - 90% giá thành cá tra là chi phí thức ăn. Trong khi đó, khoảng 80% các doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ quyền cung cấp thức ăn thủy sản, quyết định giá nguyên liệu.

Như vậy, sản xuất cá tra, từ đầu vào đến đầu ra, người nuôi với tư cách nhà sản xuất, nhưng không có quyền quyết định đối với sản phẩm của mình làm ra. Khi cá tra được giá, người nuôi chỉ lãi 10 - 20%, còn lại 80 - 90% thuộc phân ngành thức ăn. Thua lỗ, thì người nuôi mất trắng.
Một thực tế tồn tại nhiều năm qua là các địa phương hầu như chưa quan tâm xem xét, đánh giá, thống kê số liệu doanh nghiệp mạnh và yếu để có giải pháp khắc phục. Với nhóm doanh nghiệp còn có thể đứng vững trên thị trường thì hỗ trợ phát triển, còn lại thì cần giải pháp xử lý tránh đổ vỡ gây hậu quả dây chuyền.
“Giải bài toán tái cấu trúc ngành hàng cá tra chắc chắn có tầm chiến lược hơn nhiều so với việc xử lý nợ nần của doanh nghiệp thủy sản và người nuôi. Yêu cầu đòi hỏi tăng cường liên kết vùng, liên kết chuỗi giá trị thực chất, thương hiệu hóa; tái cấu trúc toàn diện ngành hàng thủy sản gắn với ngành công nghiệp thức ăn, đa dạng hóa sản phẩm. Nhưng trước mắt là cần rà soát, thải loại các doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính, quản trị để đảm bảo sự lành mạnh, sức cạnh tranh của các tác nhân tham gia chuỗi, đủ sức cạnh tranh trước thách thức hội nhập” - ông Hiệp nói.
Cần thuốc đủ liều
Theo các chuyên gia, thực trạng yếu kém, thiếu bền vững của chuỗi giá trị cá tra đã được nhận diện mấy năm qua, nhiều giải pháp đã được thực thi. Từ tăng cường quản lý nhà nước, quy hoạch vùng nuôi, nhà máy chế biến đến tiếp cận cho vay theo chuỗi, thành lập Hiệp hội Cá tra… Nhưng các giải pháp này dường như chưa đủ sức tái cấu trúc chuỗi. Sự vỡ nợ của các đại gia trong ngành cá tra cần được xem là một chỉ dấu để rà soát chính sách và hiệu quả của các giải pháp.
Các mô hình liên kết trong thủy sản hiện nay là đúng đắn, ngay cả các hộ dân đang bị Cty Thuận An nợ tiền cũng khẳng định rằng: “Chúng tui sẽ tiếp tục tham gia vào chuỗi liên kết bởi đây là một chủ trương đúng với hiệu quả đã được chứng minh trong thực tiễn. Vấn đề là ngành chức năng phải đánh giá, lựa chọn doanh nghiệp đủ năng lực và có cách quản lý phù hợp, bởi người nông dân không thể nào biết được chuyện mần ăn của doanh nghiệp”.
Liên kết là đúng, song không thể đạt được qua 1 hoặc 2 vụ, mà phải mất nhiều năm, qua nhiều bước đi, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để từng bước nâng chất lượng các hình thức kinh tế hợp tác. Đây là giai đoạn chuyển đổi phương thức sản xuất, từ mô hình kinh tế hộ sang kinh tế hợp tác. Bài toán liên kết sản xuất - tiêu thụ là giai đoạn đầu để hướng đến quan hệ sản xuất mới - một yêu cầu tất yếu và bức thiết cho cả nền nông nghiệp ĐBSCL chứ không riêng gì con tôm, con cá…
Các chuyên gia đề xuất: Vấn đề quan trọng hiện nay là cần siết chặt việc quy hoạch vùng nuôi và kiểm soát tốt sản lượng cá của toàn vùng nhằm điều tiết nhu cầu tiêu thụ một cách hợp lý. Mô hình nuôi cá tự phát theo kiểu cũ cần phải xóa dần để tiến tới mô hình nuôi mới có gắn kết với doanh nghiệp tiêu thụ. Tùy theo điều kiện của từng địa phương mà xây dựng mô hình liên kết phù hợp nhất để có hiệu quả và đảm bảo được quyền lợi của các bên tham gia, cùng thúc đẩy nghề cá phát triển…
Dự kiến, trong năm 2017, diện tích nuôi cá tra cả nước đạt hơn 5.350ha, cho sản lượng gần 1,2 triệu tấn. Do nhu cầu tiêu thụ cá tra của các nước nhập khẩu đang tăng cho nên giá cá liên tục tăng nhanh, có thời điểm đã chạm mức 25.000 đồng/kg gần với mức giá kỷ lục - hơn 26.000 đồng/kg từng thiết lập cách đây 6 - 7 năm. Bộ NNPTNT dự báo trong năm nay kim ngạch xuất khẩu cá tra ước đạt hơn 1,7 tỉ USD.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét