Chuyển đến nội dung chính

Nhân lực là động lực phát triển đồng bằng

Trần Hữu Hiệp
TTO - Mô hình phát triển ĐBSCL lấy con người làm trung tâm, chú trọng chất lượng hơn số lượng, chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, tiếp cận chủ động, linh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra nhanh.

TS. Trần Hữu Hiệp - Ảnh: Chí Quốc
Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu đã xác định tầm nhìn dài hạn, yêu cầu thay đổi tư duy, kiến tạo phát triển bền vững, thịnh vượng, chủ động thích ứng, chuyển hóa những thách thức thành cơ hội để phát triển vùng, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, bảo đảm cuộc sống khá giả của người dân ĐBSCL.
Mô hình phát triển ĐBSCL lấy con người làm trung tâm, chú trọng chất lượng hơn số lượng, chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, tiếp cận chủ động, linh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra nhanh, ngày càng cực đoan. Mô hình đó đòi hỏi bước chuyển căn bản về chất nguồn nhân lực ĐBSCL, trở thành là động lực cơ bản và xuyên suốt trong phát triển vùng.
Không thể phủ nhận những chuyển biến tích cực trong giáo dục-đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL góp phần nâng cao dân trí, chất lượng nhân lực. Các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng trường học, dạy nghề, giải quyết việc làm, đào tạo nghề lao động nông thôn, tín dụng chính sách … đã được triển khai có hiệu quả. 
Song, sau hơn 10 năm chọn "phát triển nguồn nhân lực" là một trong 3 khâu đột phá, chất lượng nguồn nhân lực ĐBSCL vẫn tụt hậu so với các vùng miền cả nước. 
Tây Nam Bộ đang xếp cuối bảng từ các chỉ số giáo dục đại học, cao đẳng, lao động qua đào tạo đang làm việc trong nền kinh tế đến giáo dục mầm non, mẫu giáo và phổ thông. Trong khi đó, tỷ lệ học sinh bỏ học ở 3 cấp của vùng này cao nhất, gần gấp 3 lần cả nước. 
Kinh tế khó khăn, chi phí học hành lớn, sinh kế là những nguyên nhân chính dẫn đến phần lớn các em học sinh phổ thông bỏ học, tạo ra cái nền chông chênh cho các bậc giáo dục, đào tạo tiếp theo. 
Trong khi hàng loạt sinh viên ra trường không tìm được việc làm đang tác động tiêu cực đến tâm lý nhiều hộ gia đình gồng gánh đầu tư cho giáo dục.
Thực tế đó đang đòi hỏi một chiến lược đào tạo nhân lực, các giải pháp tổng thể và mạnh mẽ hơn để phát triển nguồn nhân lực chất lượng, tạo ra động lực phát triển vùng. Cùng với Chiến lược nhân lực quốc gia và các tỉnh, rất cần một Chiến lược nhân lực cho vùng ĐBSCL. Qui hoạch phát triển hệ thống các trường ĐH, cao đẳng, trường nghề, trường phổ thông và các hoạt động giáo dục, đào tạo, day nghề… phải dựa trên chiến lược này. 
Cần "hướng cầu" là thị trường lao động, nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị trong vùng làm động lực phát triển hơn là chủ yếu dựa trên năng lực chuyên môn, cơ sở vật chất của các trường. Phải thật sự gắn kết được lợi ích, sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động trong đào tạo nhân lực của vùng, kèm theo là các chính sách khuyến khich thích hợp. Cần phải quan tâm lồng ghép, kết nối, tập hợp để tạo ra chuyển biến tốt hơn từ nhiều chương trình, tạo ra cuộc vận động lớn, thiết thực và hiệu quả hơn.  
Hệ thống GDĐT từ mầm non, phổ thông, cao đẳng, ĐH đến các trường nghề, hệ thống giáo dục xã hội trong vùng cần được quan tâm đầu tư để đủ sức tạo ra "sản phẩm nhân lực" tốt hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội, chứ không phải trông chờ vào chính sách ưu tiên chỉ tiêu đào tạo, chỉ tạo ra "lợi thế ảo". 
Hoạt động liên kết vùng ĐBSCL trong phát triển nguồn nhân lực cần được tiếp tục tăng cường về chất, nội dung, phương thức phù hợp hơn nữa.
Để phát triển đồng bằng, rất cần những nguồn lực mới, những mô hình phát triển mới với hiệu quả cao hơn, năng suất lao động cao hơn. Động lực mới cho các mô hình mới này cần phải được bắt đầu chính từ nội lực của vùng, từ nguồn nhân lực bậc cao, từ khoa học và công nghệ và từ doanh nghiệp. 
Cuộc đua thoát khỏi vùng trũng về chất lượng nhân lực của miền Tây Nam Bộ không chỉ hướng đến một chất lượng, nguồn cung nhân lực có uy tín cho xã hội và doanh nghiệp, mà rất cần biến nó thực sự trở thành một động lực phát triển vùng.     


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...