Chuyển đến nội dung chính

Giáo dục là để nâng cao năng lực thích nghi

 Trần Hữu Hiệp

PN TPHCM -  09/05/2025 - 06:31

PNO - Đổi mới không thể chỉ trông chờ vào từng trường đơn lẻ. Cần có chiến lược phát triển nhân lực vùng ĐBSCL mang tính liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp và nhà trường.

 


Từ chỗ chỉ có Trường đại học Cần Thơ, đến nay, toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có gần 30 trường đại học và phân hiệu đại học, thu hút hàng trăm ngàn sinh viên theo học mỗi năm. Đằng sau sự gia tăng về số lượng là câu hỏi về chất lượng đào tạo, khả năng tạo việc làm bền vững cho sinh viên tốt nghiệp và nhìn rộng ra là chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội.

Không khó để nhận thấy nghịch lý, số trường tăng nhanh, ngành học được mở rộng, cơ sở vật chất được đầu tư tốt hơn nhưng tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng ngành vẫn thấp, nhiều trường giảng dạy cái mình có, chưa phải cái mà thị trường lao động thật sự cần. Do vậy, các trường đại học ở ĐBSCL phải thay đổi căn bản và toàn diện về tư duy phát triển giáo dục đại học, từ “dạy để có bằng” sang dạy để nâng cao năng lực thích nghi của người học.

Thay đổi tư duy trước hết là thay đổi cách tiếp cận. Giáo dục đại học không còn là hệ thống đào tạo tĩnh, đóng khung trong lớp học. Trong kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data), internet vạn vật (IoT) và tự động hóa, nhà trường không thể tiếp tục dạy theo kiểu giảng viên đọc, sinh viên chép, thi lấy điểm.

Những mô hình giáo dục quốc tế tiên tiến đã chuyển từ teaching sang learning, đặt trọng tâm vào người học, vào khả năng tự học, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và học suốt đời.

Chương trình đào tạo cần được thiết kế lại để linh hoạt hơn, cập nhật thường xuyên hơn, có tính thực tiễn và liên ngành rõ nét hơn. Những ngành kỹ thuật, công nghệ, luật, kinh tế, nông nghiệp, thủy sản, kể cả các ngành khoa học xã hội sẽ nhanh chóng lỗi thời nếu không đưa các module về AI, dữ liệu, tự động hóa, quản trị số vào chương trình. Đây không phải là thêm môn học, mà là tổ chức lại nội dung cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn.

Đội ngũ giảng viên cũng cần đổi mới chính mình. Không thể giảng dạy về đổi mới sáng tạo tốt nếu giảng viên chưa từng trải nghiệm các nền tảng số, chưa từng tham gia các dự án ứng dụng AI hay chuyển đổi số trong doanh nghiệp. Đại học không thể là nơi xa rời thị trường mà phải là trung tâm kết nối tri thức - thực hành - khởi nghiệp.

Muốn vậy, giảng viên cần trở thành nhà nghiên cứu, nhà sáng tạo và cả nhà huấn luyện năng lực thích ứng cho sinh viên. Thực tế cho thấy, những trường mạnh dạn đổi mới đang có tỉ lệ sinh viên có việc làm cao hơn, kết nối xã hội tốt hơn.

Quyết định số 131/QĐ-TTg về quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học đến năm 2030 đã nêu rõ định hướng tái cấu trúc hệ thống theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tăng tính tự chủ, tăng trách nhiệm giải trình và liên kết với nhu cầu thị trường lao động. Các trường đại học ĐBSCL cần bám sát tinh thần này, tránh tư duy phình to về số lượng mà rỗng về chất lượng.

Tất nhiên, đổi mới không thể chỉ trông chờ vào từng trường đơn lẻ. Cần có chiến lược phát triển nhân lực vùng ĐBSCL mang tính liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp và nhà trường. Cần những trung tâm đổi mới sáng tạo vùng, những liên minh trường đại học - doanh nghiệp - viện nghiên cứu; cần ngân sách đầu tư có chọn lọc cho những ngành nghề mang tính chiến lược. Và trên hết, cần một tinh thần dám thay đổi từ chính những người đứng đầu cơ sở giáo dục.

Giáo dục đại học không thể đứng ngoài cuộc cách mạng công nghệ. Nếu các trường đại học ĐBSCL không bắt nhịp được với AI, với chuyển đổi số thì rất nhanh thôi, sinh viên sẽ quay lưng, thị trường lao động sẽ bỏ lại và cả vùng đất này sẽ bỏ lỡ cơ hội bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức. Giáo dục đại học phải dẫn đường, không phải bằng những bài giảng cũ kỹ mà bằng một tinh thần mới và sáng tạo để phát triển.

 

https://www.phunuonline.com.vn/giao-duc-la-de-nang-cao-nang-luc-thich-nghi-a1549356.html

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...