Chuyển đến nội dung chính

Trọng cung hay trọng cầu?

 TS TRẦN HỮU HIỆP

SGGP Thứ Tư, 10/8/2022 06:00

Trọng cung hay trọng cầu? Câu trả lời phải dựa trên kết quả cân đối hài hòa giữa tiêu dùng trong nước, dự trữ và xuất khẩu gạo.



Ảnh minh họa

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng an ninh lương thực đang diễn ra ở các quốc gia do tác động của thiên tai, dịch bệnh, xung đột vũ trang và giá cả lương thực leo thang... thì câu chuyện tăng hay giảm, thậm chí hạn chế xuất khẩu gạo Việt lại trở nên nóng như đã từng xảy ra vào năm 2008 (khi ĐBSCL gặp trận hạn mặn lịch sử) và năm 2020 (do tác động của dịch Covid-19).   

Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2022 gây chú ý khi nêu ra “3 vòng xoáy đi xuống” của vùng đất giàu tiềm năng nhưng nhiều thách thức này. Nếu như 2 vòng xoáy ngân sách và lao động được nhận diện với sự đồng thuận cao, thì dòng xoáy thứ ba về “cơ cấu kinh tế vùng” liên quan đến vai trò, vị trí và cách ứng xử với cây lúa, hạt gạo đồng bằng sắp tới có sự tranh luận sôi nổi, cần thống nhất nhận thức và hành động.

Theo đó, vòng xoáy cơ cấu kinh tế vùng được cho là bị thiên lệch trong việc thực thi sứ mệnh an ninh lương thực. Một thời gian dài, ĐBSCL phải ưu tiên giữ đất trồng lúa. Đầu tư hệ thống thủy lợi, đê bao ngăn mặn, giữ ngọt… chủ yếu phục vụ thâm canh, tăng vụ lúa. Sản lượng lúa trở thành chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của các tỉnh, mà đúng ra phải là giá trị thay cho sản lượng hiện vật. 

Ngành hàng lúa gạo cần được chuyển đổi bằng tư duy mới, cách tiếp cận mới, bằng công nghệ, linh hoạt với thị trường để tạo ra giá trị mới, chứ không phụ thuộc vào việc giảm diện tích đất trồng lúa cơ học hay mệnh lệnh hành chính cấm hoặc hạn chế xuất khẩu gạo. Việc thay đổi tư duy sản xuất và xuất khẩu gạo là đúng, đã nói đến nhiều, nhưng vì sao đến nay vẫn chưa làm được và sắp tới phải làm như thế nào để nông dân được hưởng lợi nhiều hơn?

Trọng cung hay trọng cầu? Câu trả lời phải dựa trên kết quả cân đối hài hòa giữa tiêu dùng trong nước, dự trữ và xuất khẩu gạo. Cần xây dựng cơ chế điều hành xuất khẩu lương thực, thực phẩm linh hoạt, phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là yêu cầu đặt ra nhiều năm nay. 

Nhà nước tham gia chuỗi giá trị lúa gạo với vai trò của một tác nhân quan trọng. Nhà nước hoạch định cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chỉ đạo sản xuất lúa, điều tiết thị trường, xuất khẩu gạo gắn với chiến lược an ninh lương thực quốc gia. Nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước đã mang lại thành tựu to lớn cho ngành lúa gạo nhưng cũng còn nhiều cơ chế, chính sách bất cập, chưa đi vào trọng tâm, không đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống, thực hiện rời rạc, lãng phí nguồn lực.

Không thể bỏ qua yêu cầu tiếp cận an ninh lương thực theo đường cung, thể hiện qua các chính sách về đổi mới tổ chức sản xuất, đảm bảo an toàn sản xuất, cung ứng và dự trữ lương thực quốc gia. Tuy nhiên, cần phải tiếp cận an ninh lương thực gắn với vai trò của ngành hàng, trong đó có việc xuất khẩu gạo và tiêu thụ nội địa. Tiếp cận an ninh lương thực theo đường cầu thể hiện qua các chính sách về đảm bảo an toàn nhu cầu lương thực, đa dạng sinh kế, gắn với xây dựng nông thôn mới; đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho người dân, thu nhập cho người trồng lúa.

Trở lại câu hỏi sắp tới xuất khẩu gạo Việt Nam nên trọng cung hay trọng cầu? Câu trả lời không quan trọng hơn cách làm, phải trọng cầu, phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường nhưng cũng không thể bỏ qua “năng lực cung”. 

Ngành lúa gạo nước ta cần vượt qua dấu chân lấm bùn của kinh tế tự nhiên, kinh nghiệm nông nghiệp truyền thống để bước sang kinh tế tri thức, tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp sáng tạo toàn cầu, thích ứng linh hoạt với thị trường.

Tái cấu trúc ngành hàng và thị trường gạo đang là đòi hỏi bức bách hơn là định chỉ tiêu xuất khẩu, hay lệnh cấm hoặc hạn chế xuất khẩu gạo với “chiếc áo” đảm bảo cái ăn mơ hồ. Vai trò của các cơ quan nhà nước với các vấn đề xuyên suốt vượt ra ngoài khuôn khổ nông nghiệp truyền thống, cần bớt chỉ đạo, tăng kiến tạo, hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân nhiều hơn bằng chính sách và công cụ mà chỉ Nhà nước mới có.

https://www.sggp.org.vn/trong-cung-hay-trong-cau-833409.html

 

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...