26 tháng 2, 2015

Khát vọng đồng bằng


Quốc Trung
Bước tiến nông nghiệp
Nền kinh tế Việt Nam trong gần 40 năm qua (1975-2015) đã đạt được bước tiến dài. Trong đó đáng kể nhất là lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện, sản lượng các loại nông sản đều tăng đáng kể. Hàng năm, ĐBSCL sản xuất khoảng 50% sản lượng lúa, 58% sản lượng thủy sản đóng góp khoảng 90% sản lượng gạo xuất khẩu, cung cấp 70% lượng trái cây và đóng góp gần 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Mô hình "cánh đồng lớn” từ quy mô chỉ khoảng 7.200 trong vụ lúa Đông Xuân năm 2011-2012, thì đến vụ lúa Đông Xuân 2013-2014 đã tăng lên 134.000ha.  
Làm sao để đời sống người trồng lúa khá lên được là câu hỏi lớn

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng mà nghành nông nghiệp vùng đất phù sa Cửu Long mầu mỡ tạo được cũng phải nhìn nhận một thực tế, những năm gần đây lĩnh vực hàng đầu này đang gặp phải nhiều khó khăn, thách thức. Điệp khúc được mùa rớt giá cứ đeo đẳng người nông dân mãi không thôi, diện tích lúa theo đó cũng đang bị thu hẹp dần. Chuỗi giá trị của hạt gạo bị chia thành nhiều khúc. Con cá tra một thời được người dân vùng ĐBSCL tôn thờ "đúc tượng”, những năm gần đây đã không còn là cứu cánh của người nông dân. GS.TS Võ Tòng Xuân từng day dứt: Nông dân trồng lúa để chế biến ra gạo xuất khẩu đưa Việt Nam đứng vào hàng thứ nhất, nhì trên thế giới nhưng lại là tầng lớp nghèo nhất. Hầu hết nông dân phải lo bán đổ bán tháo lúa mới vừa gặt, thậm chí bán cả lúa non để trang trải nợ nần… Còn Tiến sĩ Lê Văn Bảnh- Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL tâm tư: mang tiếng là xuất khẩu sản lượng hàng đầu thế giới nhưng thời gian qua không làm chủ được thị trường. Cũng như con cá tra, nhiều năm qua Việt Nam vẫn "một mình một chợ” nhưng chưa bao giờ làm chủ được giá cả để rồi tự bơi theo nó... Xuất khẩu số lượng lớn mà sản phẩm không có thương hiệu thì ngang bằng làm thuê cho thiên hạ.
Tìm hướng đi mới 
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2020, đây sẽ là vùng trọng điểm về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; sản phẩm xuất khẩu chính của cả nước với hai mặt hàng chiến lược là lúa gạo và thuỷ sản; hình thành các khu, vùng chuyên canh sản xuất lớn ứng dụng công nghệ cao, gắn với việc phát triển nông thôn mới; tiếp tục chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo định hướng của thị trường. Tuy nhiên, điều cốt yếu để thực hiện được mục tiêu này cần những quyết sách hợp lý, kịp thời. Không thể để nông dân tự bơi trong sân chơi toàn cầu hóa, không thể để chuỗi giá trị trong nông nghiệp tiếp tục bị cắt vụn: nông dân chỉ biết nuôi trồng, không biết gì về nhu cầu thị trường, không tự quyết về giá bán; chuyện mua bán do thương lái làm chủ, tùy tiện ép giá; doanh nghiệp thì khư khư thủ lợi chỉ hợp tác với nông dân khi thấy dễ kiếm lời, không có quan hệ hợp tác căn cơ, lâu dài, vì lợi ích hài hòa của cả hai bên.
Ông Trần Hữu Hiệp- Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ cho rằng: Việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Tái cơ cấu ở vùng trọng điểm lúa số 1 của cả nước cần được bắt đầu từ chính những yếu kém nội tại và tận dụng lợi thế của vùng này trước thách thức cạnh tranh nông nghiệp ngày càng gay gắt, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Hơn cả tái cơ cấu phải là cuộc lột xác thật sự. Dù vẫn phải đối diện với nhiều thách thức nhưng những năm gần đây, với chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng ĐBSCL kết hợp với phong trào xây dựng nông thôn mới đang mang đến cho vùng một luồng gió mới, từng bước làm "thay da đổi thịt” vùng nông thôn giúp đời sống người dân ngày càng nâng chất.
Để có một cuộc cách mạng mới cho nền nông nghiệp phát triển bền vững phải tự chuyển mình thông qua việc đẩy mạnh "liên kết” vùng, xây dựng chuỗi giá trị từ sản xuất đến thu hoạch, bảo quản và chế biến. 



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét