Chuyển đến nội dung chính

Cần giải pháp tháo gỡ bất ổn cho mô hình “cánh đồng mẫu lớn”

“Là hướng đi tất yếu, nhưng đến nay, mô hình cánh đồng mẫu lớn (CĐML) vẫn đang bộc lộ nhiều hạn chế cùng những rào cản gây trở ngại cho sự phát triển hạt gạo”. Đó là nhận định được đưa ra tại hội nghị “cánh đồng lớn” diễn ra ngày 27.5 tại TP.Cần Thơ do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp với Tổng hội NNPTNT tổ chức…

Thu hoạch lúa trên CĐML ở huyện Cờ Đỏ, TP.Cần Thơ. Ảnh: TR.L
Người trồng lúa vẫn nghèo…
Vùng ĐBSCL thực hiện mô hình CĐML từ vụ hè thu 2011, đến nay toàn vùng đã có khoảng 200ha triển khai theo mô hình này. Tính đến vụ hè thu 2014, có 101 doanh nghiệp (DN) trong vùng tham gia ký hợp đồng sản xuất và bao tiêu lúa gạo cho nông dân. Tỉ lệ thành công của việc thực hiện hợp đồng giữa DN và nông dân tăng đáng kể, từ chưa đầy 30% (năm 2013) lên trên 55% (năm 2014)…
Ông Phạm Văn Dư - Phó Cục Trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT) - cho biết: Đa số các DN xuất khẩu, tiêu thụ gạo trong nước vào cuộc khá chậm, trong khi CĐML chính là điểm xuất phát cho việc xây dựng vùng nguyên liệu lúa xuất khẩu tương lai. Nhiều nông dân không tuân thủ đúng quy trình canh tác đã được hướng dẫn. Nhận thức và quan điểm trong xây dựng CĐML chưa đồng bộ, dẫn đến đầu tư không được quan tâm đúng mức.
TS Lê Văn Bảnh - nguyên Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL - cho rằng: ĐBSCL là vùng sản xuất lúa gạo chính, nhưng nông dân trồng lúa là người nghèo nhất, cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân do nông dân sản xuất nhỏ lẻ, tự phát, thiếu sự liên kết “4 nhà”; đặc biệt là việc đặt hàng, đầu tư và bao tiêu sản phẩm của các DN. Có nghị định về liên kết “4 nhà”, nhưng thực tế chưa áp dụng được do còn nhiều vướng mắc. Trong xuất khẩu gạo, Việt Nam chưa có thương hiệu nên giá trị không cao, sức cạnh tranh thấp.
Ông Trần Hữu Hiệp - Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ) - nêu thực trạng: Những bất ổn nội tại của CĐML là mối liên kết giữa nông dân và DN vẫn lỏng lẻo. Chuyện “bẻ kèo” diễn ra ở cả hai phía mà bên thiệt hại không thể làm gì được, do hiện nay không có quy định cụ thể để xử lý. “DN đầu tư, cung ứng giống cho nông dân, khi bị “bẻ kèo” không biết kêu ai. Ngược lại, để đáp ứng điều kiện được xuất khẩu gạo, có xu hướng DN hợp thức hóa việc liên kết xây dựng vùng nguyên liệu hơn là quyết tâm hợp tác thực sự, DN quay lưng với nông dân khi giá gạo xuống thấp” - ông Hiệp cho biết.

Cần nhiều hơn những trợ lực
Theo các chuyên gia, mô hình CĐML là một hướng đi tất yếu, phù hợp với thực tiễn, cần có những giải pháp tháo gỡ bất ổn để hoàn thiện.

Ông Phạm Thái Bình - Giám đốc Cty TNHH Trung An (chuyên kinh doanh lúa gạo, quận Thốt Nốt, TP.Cần Thơ) - nêu ý kiến: Hiện có nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ cho DN tham gia CĐML, nhưng sự hỗ trợ từ các chính sách này vẫn rất ít so với những gì mà DN đầu tư cho nông dân. Do vậy, DN không tham gia CĐML vì thiếu “lực”. “Khi làm CĐML chắc chắn giá thành sẽ cao hơn bên ngoài, sự cao hơn đó chính là những cái mà DN hỗ trợ cho nông dân, bao gồm việc đầu tư và bao tiêu cả “đầu ra”. Nếu không có cơ chế, chính sách hỗ trợ thực thụ thì DN sẽ không kham nổi” - ông Bình cho biết thêm.

TS Lê Văn Bảnh đặt vấn đề: “Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), trên thế giới hiện còn hàng tỉ người đói, nhưng hạt gạo Việt Nam vẫn gặp khó khăn trong tiêu thụ. Vấn đề đặt ra là chúng ta đã làm tốt công tác xúc tiến thương mại hay chưa? Hiện nhiều quốc gia cạnh tranh xuất khẩu gạo, ngoài những thị trường truyền thống, họ đã mở rộng thêm nhiều thị trường mới như: Bắc Mỹ, Tây Âu… Điều này, chúng ta đã làm tới đâu, có cạnh tranh được chưa?”.
Theo ông Trần Hữu Hiệp, mô hình CĐML là phương thức sản xuất theo chuỗi giá trị, ở đó thị trường vẫn là khâu quyết định cho chuỗi giá trị gạo. Đã có hiện tượng nhiều nơi xây dựng CĐML nhưng “đầu ra” thì chưa có địa chỉ cụ thể, dẫn đến thất bại. Giải quyết “đầu ra” cho nông sản cũng như lúa gạo phải gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, giải bài toán tổng thể chứ không thể làm có tính chất đối phó, theo đuôi sự viêc. CĐML phải được xây dựng dựa trên một quy hoạch sản xuất lúa được tiếp cận theo lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh vùng. Đặc biệt, cần có chính sách tách biệt hẳn các hệ thống và chiến lược xuất khẩu gạo mang tính “chính trị - xã hội” và tính thương mại để có chính sách rõ ràng. Từ đó, phân biệt giữa hai mục tiêu để tăng cường hỗ trợ nhóm “chính trị - xã hội”, giải phóng một phần gánh nặng để tăng lợi nhuận, đồng thời nâng cao trách nhiệm cho nhóm thương mại…


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...