Chuyển đến nội dung chính

Ló dạng lũ Nhâm Thìn 2012


Trần Hiệp Thủy
Mấy ngày qua, các tỉnh trong vùng ĐBSCL liên tục có mưa dông, thời tiết diễn biết bất thường, sạt lở bờ sông xảy ra ở nhiều nơi. Tin mới nhất của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương cho biết, lũ vùng đầu nguồn đang lên, dự báo đỉnh lũ cao nhất trong năm tại các trạm đầu nguồn sông Cửu Long sẽ xuất hiện vào những ngày đầu tháng 10/2012 và có khả năng đạt mức xấp xỉ mùa lũ lịch sử năm 2000. Thông tin này đã chấm dứt mọi phỏng đoán về một mùa “lũ thấp, lũ đẹp” trước đó, ló dạng cơn lũ Nhâm Thìn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường.

Các địa phương cần khẩn trương rà soát mức độ an toàn các công trình phòng tránh lũ, các khu dân cư, trường học ven sông, ven kênh rạch, khu vực có khả năng ngập lụt và đề ra phương án chủ động sơ tán, di dời dân cư ra khỏi các khu vực có nguy cơ sạt lở, ngập sâu … với yêu cầu không được chủ quan, lơ là. Còn nhớ, trận lũ lịch sử năm 2000 đã làm chết 539 người (hơn 300 là trẻ em), 212 người bị thương, 890.000 căn nhà, 13.793 phòng học, 383 cơ sở y tế bị ngập, 9.457 căn nhà bị sập hoàn toàn, hơn 62.000 hộ dân phải dời nhà ở, hơn nửa triệu người phải cứu trợ khẩn cấp. Nhưng suốt 10 năm sau đó, ĐBSCL gần như không có lũ, dễ sinh chủ quan. Lũ năm 2011 mặc dù lớn xấp xỉ năm 2000, nhưng nhờ chủ động phòng tránh, nên số thiệt hại thấp hơn nhiều so trước đó. Lũ năm 2011 như liều “thuốc thử” về năng lực ứng phó thiên tai của cấp uỷ, chính quyền, nhân dân sau 10 năm chuẩn bị, chủ động phòng tránh; củng cố thêm triết lý “sống chung với lũ” và “vượt lên đỉnh lũ”. Điều này cần tiếp tục phát huy trong ứng phó trước lũ Nhâm Thìn đang đến gần.  
Thực tế đã hiển hiện những dự báo khoa học về nguy cơ biến đổi khí hậu, nước biển dâng ảnh hưởng nghiêm trọng đến vùng ĐBSCL là hoàn toàn có thật. Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, bố trí dân cư, tổ chức sản xuất của vùng ĐBSCL đều phải đặt trong bối cảnh tổng thể, phải tính đến những mục tiêu ứng phó dài hạn, nhưng cũng không quên những mục tiêu trước mắt là người dân phải sống, con em phải đi học, vùng đất vựa lúa, vựa cá tôm, vựa cây này phải tiếp tục được đầu tư phát triển. Các địa phương cần tiếp tục thực hiện tốt công tác quy hoạch, xây dựng cụm, tuyến dân cư vượt lũ giai đoạn II; quy hoạch lại sản xuất, xác định rõ vùng nào có thể sản xuất lúa 3 vụ chủ động, vùng nào không. Cần tiếp tục nghiên cứu hệ thống cấp thoát nước cho vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp phát triển hiệu quả, bền vững mà không “ngại” ảnh hưởng biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Đó cũng là cách người đồng bằng vượt qua “lời nguyền - Năm Thìn bão lụt”.
(Bài trênBÁO LAO ĐỘNG ngày 29-9-2012)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...