Chuyển đến nội dung chính

Điệu Lâm Thôn thấp thoáng sân chùa

Trần Hiệp Thủy
“Về Sóc Trăng vui điệu Lâm Thôn”- ca từ bài hát nổi tiếng “Chiếc áo bà ba” như lời giới thiệu mộc mạc về Sóc Trăng, tỉnh có đông bà con Khmer nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Nhưng thật ra, lời ca, tiếng nhạc ngũ âm hòa điệu múa Lâm Thôn không phải của riêng Sóc Trăng, mà là sản phẩm văn hóa độc đáo của cộng đồng Khmer Nam Bộ.
Lâm Thôn là vũ điệu thường thấy trong dịp Đôn Ta, Ok Om Book, Chol Chnam Thmây hay những dịp sinh hoạt vui chơi của bà con Khmer. Người Khmer sinh ra, lớn lên đã biết múa hát với nhiều điệu múa như Răm Vông, Lăm Leo, Saravan… nhưng phổ biến nhất vẫn là múa Lâm Thôn vì sự gần gũi, bình dân và tính cộng đồng cao của nó.

Động tác múa Lâm Thôn khá đơn giản, khi tiếng nhạc vang lên, mọi người cùng uyển chuyển bước chân theo nhịp điệu, di chuyển thành vòng tròn hoặc thành hàng, không giới hạn số người tham gia. Nữ thì lượn 2 tay lên trước ngực thể hiện sự mềm mại; nam thì dang rộng 2 tay về phía hai bên hông thể hiện sự mạnh mẽ, chở che cho bạn múa.
Phần lớn người Khmer miền Tây Nam Bộ không sống quá tách biệt trong phum, sóc mà cộng cư với phần đông người Kinh, Hoa, nên sinh hoạt cộng đồng, văn hóa từ lâu đời đã tự nhiên có gắn bó, có sự giao thoa ngôn ngữ, đổi trao nhau tập tục mà vẫn giữ nét riêng có.
Một trong những “tụ điểm” mà bọn trẻ con người Kinh chúng tôi thường đến “ăn ké” bánh tét, chuối già, xôi chè là các điểm chùa Khnner. Ký ức tuổi thơ tôi còn nhớ như in những dịp lễ hội Khmer mấy mươi năm trước, thấp thoáng sân chùa điệu múa Lâm Thôn của những cặp gái trai các dân tộc Việt – Khmer.
Chùa Khmer không chỉ là một thiết chế tôn giáo, là công trình nghệ thuật độc đáo mang đậm bản sắc văn hoá, mà còn là nơi lưu giữ truyền thống, tập tục, điểm sinh hoạt cộng đồng, là trường học, là ngôi nhà của ông bà, tổ tiên họ trong cõi đi về. 
Bản sắc văn hóa, truyền thống, lịch sử Khmer Nam Bộ đã từng được thể hiện, lưu giữ qua những chứng tích trên sách lá buông, trên giấy xếp hoặc trên những tấm da thô, những giá trị vật thể, phi vật thể còn lại với thời gian.
Mái chùa vòm cong, sân chùa rợp bóng mát cây xanh cổ thụ và những điệu múa Lâm Thôn, hát dù Kê, nhạc ngũ âm còn tồn tại với thời gian như dòng chảy văn hóa của một dân tộc nhiều đời cộng cư, đoàn kết Kinh – Khmer - Hoa – Chăm, tạo thành nét đặc sắc riêng của miền Tây Nam Bộ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...