5 tháng 5, 2014

Quy hoạch vùng Tây Nam bộ: Không chỉ hướng theo một “cơ cấu đẹp”

Sau nhiều biến cố được - mất, tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp miền Tây Nam bộ được coi là "không thể đặng đừng”. Phóng viên báo Đại Đoàn Kết đã có cuộc trao đổi với ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ xoay quanh việc quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp trong khu vực.

 Theo ông Trần Hữu Hiệp, Tây Nam bộ không chỉ là vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp lớn nhất nước: là trung tâm nông nghiệp trên các lĩnh vực sản xuất lúa gạo, thủy sản, trái cây, chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, chế biến và xuất khẩu nông sản. Trung bình hàng năm, Tây Nam bộ đóng góp hơn 55% sản lượng lương thực, hơn 90% lượng gạo xuất khẩu, trên 70% lượng trái cây, 58% sản lượng thủy sản. Riêng tôm chiếm 80% và đóng góp trên 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của quốc gia…

Tuy nhiên, việc tổ chức không gian phát triển và đầu tư, đặc biệt là từ nguồn ngân sách và doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Thách thức không chỉ là mối đe dọa do biến đổi khí hậu, nước biển dâng; mặt trái của quá trình công nghiệp hóa, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn; mà trực tiếp là những bất cập trong kết nối cung - cầu nông sản và thách thức cạnh tranh nông nghiệp toàn cầu.

PV: Những bức xúc trong vấn đề quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp hiện nay của Tây Nam bộ là gì, thưa ông?. 

Ông TRẦN HỮU HIỆP: Để phát triển vùng Tây Nam bộ cần khắc phục cho được tình trạng không gian kinh tế bị chia cắt theo địa giới hành chính, "tư duy nhiệm kỳ” dẫn đến quy hoạch và thực hiện quy hoạch, đầu tư của các địa phương không thỏa đáng. Ví dụ, nếu các địa phương ở đầu nguồn và cuối nguồn sông Tiền, sông Hậu không liên kết tốt được với nhau, mạnh ai nấy làm sẽ dẫn tới xung đột. Cụ thể như tỉnh đầu nguồn tập trung phát triển công nghiệp mà gây ô nhiễm môi trường sẽ khiến cho các tỉnh cuối nguồn lãnh đủ. Lợi ích của tỉnh này có khi là thiệt hại của tỉnh khác. 

Cần sớm quy hoạch để tạo thế mạnh cho vùng Tây Nam bộ
Mặc dù đã có một số quy hoạch có tính chất vùng, nhưng khi triển khai trong thực tế lại có nhiều bất cập. Thời gian qua, nhiều địa phương chỉ lo cho mình, không chú ý đầy đủ đến việc đóng góp cho vùng. Nếu các địa phương chỉ hướng theo một "cơ cấu đẹp”, ưu tiên phát triển công nghiệp, dịch vụ; giảm nông - lâm -ngư nghiệp mà không dựa trên lợi thế chung (hợp tác) và khai thác lợi thế đặc thù của mình, thì việc đầu tư trùng lặp, manh mún sẽ sớm diễn ra. Nếu chỉ nhìn lợi ích kinh tế từ tỉnh mình mà không nhìn từ cấp vùng, nhìn từ tổng thể, để thấy mình đang đứng ở vai nào, vị trí nào để phát triển, thì rất dễ nảy sinh xung đột lợi ích. 

Một ví dụ nữa, nếu Sóc Trăng muốn đầu tư thủy lợi "ngọt hóa” để trồng lúa, nhưng Bạc Liêu ở liền kề lại muốn đưa nước mặn vào để nuôi tôm- thì sao? Trong trường hợp này, cơ chế nào để giải quyết? Vì vậy, phải lấy quy hoạch vùng, công cụ vùng ra mà phân xử. Nói chung, phải có  một cơ chế liên kết hài hòa lợi ích, phải có "nhạc trưởng” để điều hành. 

Ý của ông nói tới nên có một cấp điều phối vùng để có hướng chỉ đạo rộng hơn, vùng và liên vùng?

Trong khi chưa có một cơ chế hành chính theo vùng nào chịu trách nhiệm điều phối sự phát triển vùng và quá trình chuyển giao "quyền” từ các bộ, ngành Trung ương cho các tỉnh/thành nhiều hơn, thì "luật chơi” chung cho vùng cần được hỗ trợ bằng một cơ chế, chính sách đặc thù thu hút đầu tư vào các sản phẩm chủ lực của Tây Nam bộ. Liên kết vùng hướng trọng tâm vào việc phát huy thế mạnh các sản phẩm chủ lực của vùng, gia tăng chuỗi giá trị hàng hóa, đòi hỏi "người chơi” phải rõ luật, sự phân vai và vai trò "nhạc trưởng” trong điều phối các hoạt động vùng.

Vậy theo ông, mô hình hiệu quả sẽ như thế nào?

Tôi nghĩ, hiện nay mà đề xuất ra một tổ chức quản trị công cấp vùng thì càng chồng chéo, cồng kềnh và không khả thi. Cần nghiên cứu tăng cường liên kết vùng theo các chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực của vùng, theo các cụm kinh tế ngành mà kinh tế học gọi là các "Cluster”. Lưu ý là cụm kinh tế ngành khác với khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở chỗ không nhất thiết các bên liên quan phải ở chung một không gian địa lý, mà là liên kết theo chuyên môn, mỗi người một việc. Những người nông dân, doanh nghiệp, các hiệp hội ngành hàng... gắn với nhau không chỉ là chuyện phân công làm nguyên liệu, chế biến, xuất khẩu mà gắn với nhau trong một chuỗi giá trị. Các viện nghiên cứu, trường đại học cũng tham gia với tư cách là thành tố trong "cụm ngành” chứ không phải chỉ ở vai hỗ trợ. 

Trong vấn đề quy hoạch sản xuất nông nghiệp, vùng Tây Nam bộ cần cái gì nhất, hướng đề xuất của vùng trong thời gian tới là gì, thưa ông?  

Cần tiếp tục tiếp cận theo vùng, liên kết vùng, qui hoạch "mở” và "động”, mà vẫn đảm bảo được kỷ cương. Yêu cầu liên kết, hợp tác là toàn diện, nhưng phải xác định trọng tâm, trọng điểm vì không phải các tỉnh, thành đều có thế mạnh như nhau. Dù cùng là tỉnh nông nghiệp, nhưng có địa phương mạnh về trồng lúa như An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp. Cà Mau không mạnh về lúa nhưng lại mạnh về thủy sản. Tiền Giang, Bến Tre mạnh về trái cây. Vì vậy, liên kết vùng phải chọn thế mạnh của từng địa phương để phát huy thành thế mạnh của vùng. Làm được việc này phải cần vai trò của Nhà nước tạo ra cơ chế chính sách, quy hoạch, định hướng và thông tin để doanh nghiệp thực hiện.  

Tuy nhiên, để hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thì thứ tự ưu tiên đầu tư cho sản xuất nông nghiệp phải là cuộc cách mạng về giống. Đừng để đến khi gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), người nông dân Việt Nam lại phải móc túi trả tiền bản quyền về giống cây trồng, vật nuôi. Bên cạnh đó việc quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp cũng cần phải tính toán, cũng như phổ biến những mô hình sản xuất mới phù hợp đặc tính của người nông dân và tình hình mới theo cách tiếp cận thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Trước đây, người dân miền Tây lo lũ ngập, nay lại lo biến mất mùa nước nổi, nhường chỗ cho xâm nhập mặn. 

Liên quan đến thủy lợi, xung đột lợi ích đang bị giành giật bởi "phe” điện, "phe” nước, "phe” nuôi trồng và "phe” an dân... những lợi ích này đang tác động tiêu cực vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn của vùng, theo tôi cần được điều chỉnh bằng những cải cách mạnh dạn hơn.

Song song với việc quy hoạch vùng sản xuất, theo ông cần phải có những thay đổi về chính sách đầu tư?     

Thời gian qua, đã có nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư cho tam nông, từ quy hoạch, đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, thủy lợi đến đào tạo nghề cho nông dân, hỗ trợ giống, cơ giới hóa. Nhưng, thực tiễn cho thấy, nhiều chính sách chưa đi vào trọng tâm, không đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống. Một số chính sách hỗ trợ mang tính "theo đuôi thiệt hại”, lẫn lộn giữa "làm kinh tế” và "chăm lo an sinh xã hội”. Chính sách luôn bị độ trễ khi đến người dân. Như vậy, Tây Nam bộ đang cần một hệ thống các cơ chế, chính sách đầu tư đồng bộ, căn cơ, dài hạn hơn là những đối phó ngắn hạn.

Trân trọng cảm ơn ông!

QUỐC TRUNG (thực hiện)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét