Chuyển đến nội dung chính

Giải bài toán lợi nhuận cho nông dân

(Dân Việt 17/06/2013) - Ông Trần Hữu Hiệp (ảnh) – Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã có nhận định như trên khi trao đổi với NTNN về Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp vừa chính thức được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Đề án (ĐA) đặt mục tiêu, đến năm 2020, thu nhập hộ gia đình nông thôn tăng lên 2,5 lần so với năm 2008. Theo ông, cần làm gì để vực dậy đời sống nông dân (ND)?
- Điều quan trọng của việc triển khai ĐA là làm sao giải được bài toán lợi nhuận cho ND. Phải đặt vấn đề người ND là chủ thể chính. Cần xác định hết sức rõ ràng trên phương thức kinh doanh nông nghiệp, từ đó mới từng bước giải được bài toán lợi nhuận cho người dân.
Tập quán lâu nay của chúng ta là sản xuất chỉ chạy theo sản lượng, không chú trọng đến thị trường dẫn đến người sản xuất không tự định đoạt được giá bán, đầu ra bấp bênh. Vì thế, ĐA tái cơ cấu nông nghiệp cần phải giải được bài toán này, kết nối cho được sản xuất với thị trường, có như vậy mới từng bước vực dậy đời sống ND.
ĐBSCL là vựa lúa của cả nước, nhưng đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn. Về lâu dài, theo ông cần có giải pháp hữu hiệu gì để tháo gỡ “điệp khúc” này?
- Hai thách thức lớn đang đặt ra đối với ND ĐBSCL cần được giải quyết bằng sự tiếp cận đa ngành. Một là, từ tác động của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, ảnh hưởng xấu từ thượng nguồn sông Mekong gây khô hạn, cùng với nhiều tác động tiêu cực khác của thị trường nông sản. Hai là, nội tại nền sản xuất nông nghiệp đang chuyển từ “tăng lượng” sang “đổi chất” còn nhiều bất cập. “Thách thức kép” như “hai gọng kìm” mà ĐBSCL cần phải thoát ra nếu muốn giữ và phát huy vị thế của một trung tâm trong mạng lưới sản xuất nông sản toàn cầu.
Đứng về góc độ chuyên môn trong lĩnh vực kinh tế, ông có những kiến nghị hay những giải pháp gì để giúp cho nền kinh tế ĐBSCL phát triển một cách bền vững?
- Chúng ta phải tăng cường liên kết vùng để gia tăng giá trị hàng hóa. Liên kết vùng ngoài việc khắc phục các nhược điểm hiện nay khiến chúng ta chưa phát huy hết các tiềm năng và lợi thế, thì còn tính đến “liên kết 4 nhà” và sự đồng thuận của chính quyền 13 tỉnh, thành trong vùng. Về sản xuất lúa gạo, tập trung vào 4 nhóm giải pháp chính: Ứng dụng khoa học công nghệ trong chọn tạo giống, hỗ trợ kỹ thuật sản xuất lúa gạo, tổ chức và liên kết sản xuất và giải pháp thị trường.
Về cây ăn quả, sẽ xây dựng mạng lưới sản xuất và tiêu thụ thông qua giải pháp tham gia 4 nhà, liên kết các viện- trường nghiên cứu và ứng dụng khoa học vào sản xuất, xây dựng mô hình sản xuất và tiêu thụ theo chuẩn GAP, mô hình công nghệ sau thu hoạch… Còn con cá da trơn tập trung 3 nhóm giải pháp cơ bản là thông tin kinh tế, thị trường và sản xuất; quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm qua mô hình liên kết sản xuất, cải tiến kỹ thuật và nghiên cứu, phát triển chuỗi cung ứng qua liên kết vùng…

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

"Tính cách người Việt theo vùng miền"

Thảo luận về "Văn hoá & tính cách con người Việt theo vùng miền" trên  Trái tim Việt Nam online . Người bắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa. Người miền trung thì mọc mạc, chất phác lại hay có tính cục bộ. Người miền nam thì phóng khoáng cởi mở, dễ gần.Dân miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được. Dân miền Trung thường thể hiện mình qua thái độ, cử chỉ, còn miền Nam thì thể hiện qua phong cách. Nói chung dân Bắc-Trung-Nam đều diễn tuồng cả, cho nên lời nói lúc thì nhẹ nhàng điềm đạm, lúc lại gắt gỏng chua ngoa, thái độ có lúc thì đằm thắm, khi thì thì lại khinh bạc, phong cách thì có lúc phóng khoáng lúc lại dè dặt... Ấn tượng bên ngoài là như thế nhưng có khi bạn cũng thấy là chẳng ai tranh cãi lý luận lại người Trung, thái độ cử chỉ của dân Bắc cũng có thể khiến bạn dè chừng, và lời nói hay thái độ của dân Nam cũng khiến bạn chạy dài... Muốn kiểm chứng thì bạn cứ bỏ ra ...

GIỌNG NÓI MIỀN TÂY

Trần Hữu Hiệp Bài đã đăng trên báo Lao Động năm 2011 Chân chất, thật thà, đơn giản Nước ta trải dài hơn 2.000 Km, qua nhiều vùng miền khác nhau, phong thổ, tập quán sinh hoạt khác nhau, giọng nói và từ ngữ giao tiếp hàng ngày mỗi vùng, miền cũng khác; nên mới có  giọng Hà Nội, giọng Nghệ, giọng Huế, giọng Quảng, giọng Miền Nam  mà  Sài Gòn  là đặc trưng . Cùng là chất giọng Miền Nam, không khác mấy Sài Gòn, nhưng nghe dân Miền Tây chính gốc phát âm là nhận ra ngay “Quê tôi, Hai Lúa!”:  con cá gô, bỏ dô gổ, kêu gột gẹc … Có người nói, giọng Miền Tây   “rặt” nghe dân dã, bình dị và "dễ thương" lắm. Bạn bè tôi dân Miền Trung, ngoài Bắc, những năm tháng sinh viên “choảng” nhau vì “nhạy giọng” (chửi cha không bằng pha tiếng mà!), nhưng xa nhau mấy mươi năm vẫn nhắc hoài cái chất giọng chân chất, khó quên như luôn mang theo một miền quê sông nước, đồng lúa, vườn cây và cả những ca từ ngân nga, thủng thẳn của  bài vọng cổ  - giọng nói Miền Tây Nam...

Nhớ Cần Thơ phố

Trần Hữu Hiệp B áo Dân Việt So với Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến, cố đô Huế trầm tư hay Sài Gòn phố nhộn nhịp, thì Cần Thơ phố mang đậm đặc trưng sông nước miệt vườn. Nơi đó, hàng ngày, người Tây Đô vẫn đang sống cuộc đời bình dị. Nhớ thời học phổ thông, nhà tôi chỉ cách trung tâm Cần Thơ 20 Km, nhưng mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên mới được đến Cần Thơ cùng đội học sinh giỏi của Trường cấp III Ô Môn dự thi. Đêm, mấy thằng nhà quê lang thang, lạc đường trên phố Hòa Bình, thời đó là một  đại lộ mênh mông trong mắt nhìn bọn trẻ nhà quê chúng tôi. Ký ức Cần Thơ phố trong tôi một thời còn vang qua giọng ngâm của ai trong đêm tĩnh lặng nơi con hẻm nhỏ, bài thơ Tình trắng của Kiên Giang – Hà Huy Hà: “Cần Thơ, ơi hỡi Cần Thơ/Bóng dáng ngày xanh phủ bụi mờ/Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm” … Và thơ tôi, tuổi học trò: “Ai đặt tên em tự bao giờ/Người đời hai tiếng gọi Cần Thơ/Mỗi lúc đi xa ta nhớ quá/Gặp lại hình em tron...