14 tháng 6, 2013

Đồng bằng sông Cửu Long: Lợi thế tĩnh và lợi thế động (13/06/2013)

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tiếp giáp cả Biển Đông và Biển Tây với bờ biển dài 750 km, chiếm 23% chiều dài bờ biển cả nước; hơn 360 ngàn km2 vùng biển và đặc quyền kinh tế, có gần 200 đảo và quần đảo, đặc biệt là đảo Phú Quốc lớn nhất Việt Nam. ĐBSCL không chỉ là vựa lúa, trái cây, thuỷ sản của cả nước, một trung tâm sản xuất hàng hoá lớn trong chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu, mà còn có tiềm năng kinh tế biển to lớn đang mở ra phía trước.



Nhà máy điện Cà Mau

Vươn ra biển lớn

Thực hiện  chiến lược kinh tế biển, các tỉnh ĐBSCL đã xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình hành động về phát triển kinh tế biển; bước đầu tạo chuyển biến tích cực. ĐBSCL tiếp tục phát huy thế mạnh thuỷ sản, du lịch biển, đảo. Tạo dựng lợi thế thứ 2 sau nông nghiệp là công nghiệp năng lượng, khai thác tiềm năng khí, nhờ được Trung ương quan tâm đầu tư một số công trình trọng điểm trên địa bàn như: Trung tâm khí – điện – đạm Cà Mau, đường ống dẫn khí Lô B – Ô Môn dài gần 400 km, Trung tâm điện lực Duyên Hải – Trà Vinh, điện lực Long Phú – Sóc Trăng … Một số khu kinh tế ven biển như Phú Quốc – Kiên Giang, Định An - Trà Vinh, nhóm cảng biển 6 trong vùng cũng được đầu tư, nâng cấp, tạo cơ sở cho ngành hậu cần logistic.  

Quy hoạch xây dựng vùng ĐBSCL đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL đều xác định vai trò của vùng, là "trung tâm” lớn trên 4 lĩnh vực: sản xuất lúa gạo, thủy sản; chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp; trung tâm năng lượng lớn; trung tâm dịch vụ lớn của cả nước. Trong 2 ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta là dầu khí và thủy sản, đạt kim ngạch hàng tỉ USD/năm, thì ĐBSCL đóng góp quan trọng với 52% sản lượng, khoảng 66% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước.

Cùng với những tiềm năng, lợi thế của kinh tế biển Việt Nam, vùng ĐBSCL có 2 lợi thế quan trọng. Đó là, tiềm năng tự nhiên (lợi thế tĩnh) với bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, nguồn lợi tự nhiên phong phú, đa dạng (thủy sản, khoáng sản, dầu khí, cảnh quan biển, đảo …);  vị trí địa - kinh tế và địa - chiến lược (lợi thế động) do nằm kề tuyến hàng hải Đông - Tây, là một cửa ngõ quan trọng xét trên nhiều mặt. 

Chiến lược nào cho kinh tế biển ĐBSCL

Các năm qua, các tỉnh thành trong vùng ĐBSCL, đặc biệt là 7 tỉnh ven biển đã triển khai thực hiện các Chương trình hành động phát triển kinh tế biển, tạo ra chuyển biến tích cực. Song, vấn đề đặt ra là sự liên kết vùng, phối hợp tạo ra sức mạnh để ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền. Thực tế đang đòi hỏi cần có một Chiến lược kinh tế biển của ĐBSCL, gắn bó máu thịt với cả nước hơn là những chương trình hành động riêng lẻ của từng địa phương. Liên kết vùng ĐBSCL là đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn sôi động của vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp lớn nhất nước, lực lượng nông dân đông đảo nhất và trình độ sản xuất hàng hóa nông nghiệp vào loại bậc nhất cả nước và tiềm năng kinh tế biển đang được mở ra phía trước. 

Chủ chương liên kết vùng cần một cơ chế pháp lý rõ ràng và mạnh mẽ hơn là sự "khuyến khích” hay các hình thức ký kết hợp tác lỏng lẻo giữa chính quyền các tỉnh với nhau thời gian qua. Việc liên kết cần được tổ chức theo cơ chế, mô hình liên kết hiệu quả, từ đầu tư các công trình trọng điểm vùng như cảng biển, khu kinh tế ven biển, phát triển kinh tế biển, du lịch biển đảo đến kết nối các công trình đầu tư và phát triển kinh tế biển của các tỉnh, thành, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí. 

Phát triển kinh tế biển vùng ĐBSCL cần sự tiếp cận chuỗi - hệ thống tổng thể và thể chế, chính sách. Phát triển bền vững kinh tế biển ĐBSCL, cần được tổ chức triển khai một cách đồng bộ, từ chất lượng và hiệu quả đầu tư, hợp tác quốc tế, vấn đề chủ quyền, đảm bảo quốc phòng - an ninh, tăng cường liên kết vùng, liên kết chính quyền, doanh nghiệp - thị trường… Với nguồn lực có hạn, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm, lựa chọn điểm đột phá, khắc phục tình trạng dàn trải, phân tán trong đầu tư phát triển kinh tế biển, gây lãng phí và kém hiệu quả ... là yêu cầu quan trọng hàng đầu. Cần có cơ chế, chính sách mạnh mẽ hơn cho kinh tế biển ở ĐBSCL. Cho đến nay, vẫn "chưa có gì đặc biệt” thoát ra khỏi khung chính sách khuyến khích đầu tư chung, mà điển hình rõ nhất là trường hợp của Phú Quốc. Để phát triển Phú Quốc, tạo "đòn bẩy” cho kinh tế biển của vùng, từ năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 178/QĐ-TTg phát triển đảo Phú Quốc trở thành khu kinh tế biển đặc thù, một trung tâm giao thương, dịch vụ, du lịch tầm cỡ quốc gia, khu vực và trên thế giới; với cơ chế "được hưởng ưu đãi mức cao nhất trên cả nước được hưởng”. Nhưng qua 8 năm thực hiện, vẫn vướng cơ chế, chính sách, Phú Quốc vẫn không thể thoát ra khỏi "chiếc áo pháp lý cấp huyện” để phát triển. Đầu tư hạ tầng, nhân lực, dịch vụ trên đảo vẫn rất chậm. 

Tuy nhiên, không gian phát triển của ĐBSCL không còn bó hẹp trong đất liền, được mở ra không gian biển rộng lớn, kết nối với một ASEAN năng động với 600 triệu dân, trong đó ĐBSCL là tâm điểm của bán kính 500 km nối liền các thành phố lớn trong khu vực. Ngoài Biển Đông, ĐBSCL có tiềm năng kinh tế biển Tây với điều kiện tự nhiên thuận lợi, không bị gió bão, có "hòn ngọc quốc gia Phú Quốc” gắn với vịnh Thái Lan, đang tạo ra thế "địa kinh tế - quân sự” mới, đang mở ra một cánh cửa mới cho vùng ĐBSCL nhiều tiềm năng, nhưng cũng đầy thách thức.
Trần Hữu Hiệp
Vụ trưởng Vụ Kinh tế, BCĐ Tây Nam Bộ 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét