21 tháng 6, 2012

KINH TẾ TRANG TRẠI VÀ XU HƯỚNG HÌNH THÀNH CÁC TỔ HỢP TRONG NÔNG NGHIỆP Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Bài trên TẠP CHÍ CỘNG SẢN (Chuyên đề cơ sở) số 51 (3-2011), được giải báo chí quốc gia năm 2012 (Giải khuyến khích)


      Trần Hữu Hiệp[1]                        
Sự phát triển của kinh tế trang trại ở ĐBSCL những năm gần đây, mặc dù còn những hạn chế nhất định cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn, nhưng đã tạo ra động lực mới cho phát triển kinh tế hộ nông dân, trở thành một mô hình sản xuất mới, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động, góp phần tạo ra các vùng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hàng hoá tập trung, làm tăng khối lượng và giá trị hàng hoá, góp phần xây dựng nông thôn mới.
Thanh long vươn mình. Ảnh: Trần Minh Đức (dự thi ảnh đẹp Tây Nam Bộ do BCĐ TNB phát động)

      Số liệu thống kê cho thấy, ĐBSCL có số lượng trang trại đông đảo nhất trong 6 vùng kinh tế với 65.745 trang trại, chiếm hơn 48,5% số trang trại cả nước. Mặc dù xét về qui mô (đầu tư vốn, tích tụ ruộng đất và thu hút lao động), các trang trại ở vùng ĐBSCL thường nhỏ hơn nhiều so với vùng Đông Nam Bộ và các trang trại ở Tây Nguyên. Nhưng xét ở góc độ kinh tế vùng gắn với kinh tế thị trường, thì sự phát triển và hoạt động của kinh tế trang trại ở ĐBSCL hiện nay đã thể hiện vai trò gắn liền với kinh tế hộ, đặc biệt là cần nghiên cứu sự phát triển của nó trong xu thế hình thành ngày càng rõ nét các “Cluster” trong nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL. Từ đó, nghiên cứu tác động bằng cơ chế, chính sách, các giải pháp tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp, các Viện, trường, cơ sở nghiên cứu khoa học, đào tạo trong “đội hình 4 nhà” và tăng cường liên kết vùng để tạo ra các Cluster trong nông nghiệp để phát huy thế mạnh bậc nhất của vùng ĐBSCL.
   
Từ khái niệm Cluster và kinh tế trang trại …
Theo định nghĩa của Michael E. Porter - “Cha đẻ” của Chiến lược cạnh tranh hiện đại, thì "Cluster" là một dạng “tổ hợp”, “cụm liên hoàn”, tập hợp các doanh nghiệp và các đơn vị kinh doanh cùng với các tổ chức tương tác qua lại trong một lĩnh vực cụ thể. Xung quanh nhà sản xuất hình thành các nhà cung cấp chuyên môn hoá các phụ kiện và dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng. Cùng với các KCN hoặc Cụm công nghiệp tập trung – thành phần của một Cluster - còn có sự tham gia của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ như các trường đại học, các viện công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, hiệp hội ngành nghề... cung cấp các dịch vụ đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật. Với cách hiểu đó, ở ĐBSCL đang có xu hướng hình thành các “Cluster” trong nông nghiệp cần được nghiên cứu, hỗ trợ để tác động có định hướng vào xu thế tích cực này. Trong đó, các trang trại – với tư cách là những nhân tố nổi trội, qui mô đầu tư lớn của các hộ trong nông nghiệp, nông thôn – là một thành phần quan trọng sẽ tham gia tích cực vào các Cluster nông nghiệp. Nghị quyết 03/2000/QĐ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về trang trại đã ghi rõ: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”.

Đến xu hướng hình thành các Luster trong nông nghiệp ở ĐBSCL và vai trò của các trang trại
Trên cơ sở kết quả quá trình phát triển sản xuất kinh doanh trong nhiều thập kỷ qua và những điều kiện tự nhiên của Vùng ĐBSCL, có thể xác định một số sản phẩm mũi nhọn, tạo điều kiện hình thành và phát triển các cụm liên kết (cluster) tiềm năng của Vùng ĐBSCL, đó là lúa gạo, cây ăn trái và thủy sản (tôm, cá tra). Trong đó, các hộ gia đình, trang trại đóng vai trò quan trọng, đảm bảo cho sự vận hành và sức sống của các Cluster.

Một là, xu hướng hình thành “Cluster lúa gạo”

ĐBSCL không chỉ với vai trò là “vựa lúa” cả nước, “chén cơm châu Á” mà còn là vùng đầu tiên sản xuất lúa hàng hóa, chiếm lĩnh vị trí độc tôn trong xuất khẩu gạo cả nước qua nhiều thời kỳ, trong giai đoạn hiện nay và chắc chắn còn đảm trách vai trò quan trọng này trong tương lai. Hàng năm, vùng này sản xuất 55% sản lượng lương thực, cung cấp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu. Theo Báo cáo của Cục trồng trọt, diện tích sản xuất lúa cả năm của ĐBSCL năm 2010 hơn 3,9 triệu ha, sản lượng hơn 21,5/23,5 triệu tấn lúa cả nước, đóng góp chủ yếu vào sản lượng gạo xuất khẩu 6,5 triệu tấn gạo, kim ngạch hơn 2,7 tỉ USD.
  

Hai là, xu hướng hình thành Cluster thủy sản

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi trồng thủy sản lớn nhất nước với diện tích chiếm 70%, sản lượng chiếm 58%, riêng tôm chiếm 80% và đóng góp trên 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Ước kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2010 của cả nước ước đạt khoảng 4,82 tỷ USD, tăng khoảng 14% so với năm 2009. Riêng cá tra, chỉ với 6.000 ha mặt nước nuôi, cho sản lượng 1,5 triệu tấn mỗi năm, xuất khẩu cá tra năm 2010 ước đạt khoảng 650 ngàn tấn, đạt kim ngạch 1,4 tỉ USD. Cùng với lúa gạo, thủy sản là 1 trong 11 mặt hàng của cả nước đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỉ USD năm 2010. ĐBSCL đã hình thành các cụm nhà máy chế biến thủy sản phát triển ở Sóc Trăng, Cà Mau, Hậu Giang, An Giang và Cần Thơ, đã hình thành mối liên kết giữa nghiên cứu – chủ động khoảng 40% nguồn nguyên liệu - chế biến – và xuất khẩu.

Ba là, xu hướng hình thành Cluster trái cây
ĐBSCL là vùng có truyền thống trồng cây ăn trái với diện tích chiếm 38% và sản lượng chiếm 70% lớn nhất cả nước, đã hình thành vùng chuyên canh cây ăn trái ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồp Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ; các HTX, trang trại, nhà vườn đã ứng dụng ngày càng nhiều VietGap, GlobalGap. Viện Cây ăn quả Miền Nam cùng các Trung tâm giống đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu, chuyển giao giống, kỹ thuật canh tác, phòng trị bệnh cây trồng; đã hình thành bước đầu mối liên kết giữa nhà vườn, chủ trang trại – nhà khoa học – thương lái (chủ vựa, chành), doanh nghiệp, hiệp hội trái cây … trong các khâu nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ.
a)     Yếu tố cụm – liên hoàn trong công nghiệp:
Toàn vùng hiện có 74 KCN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập, diện tích 23.901 ha, các địa phương còn qui hoạch 214 cụm công nghiệp, diện tích 18.658 ha, đến năm 2010, có 43/74 KCN đang hoạt động với tỷ lệ lắp đầy khoảng 39,7% và 41/214 cụm công nghiệp đang vận hành, tỉ lệ lắp đầy chỉ mới 27,4%[1].Theo số liệu của Bộ Công thương[2], toàn vùng có 126.772 cơ sở sản xuất công nghiệp (tăng so với năm 2005 là 33.958 cơ sở), tốc độ tăng bình quân 6,5%/năm, với hơn 900 ngàn lao động.
b)    Yếu tố cụm – liên hoàn trong các dịch vụ hỗ trợ, nghiên cứu-chuyển giao khoa học và đào tạo:
Vùng ĐBSCL hiện có 13 trường đại học, 1 Phân hiệu đại học thủy sản Nha Trang tại Kiên Giang, Phân hiệu ĐH Kiến trúc TP HCM tại Cần Thơ, 26 trường cao đẳng, ngoài ra còn một số trường đang chuẩn bị thành lập như Đại học quốc tế tại Cần Thơ, ĐH Kỹ thuật công nghệ, ĐH Kinh tế - Kỹ thuật nông nghiệp. Trong vùng đã hình thành các cơ sở nghiên cứu khoa học, đào tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học liên quan đến sản xuất lúa gạo như: Viện lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam, Trường ĐH Cần Thơ với thế mạnh đặc biệt về đào tạo ngành nông nghiệp, thủy sản, các Trung tâm giống, hệ thống câu lạc bộ khuyến nông và sản xuất giống. Tuy nhiên, các cơ sở này cần được đầu tư nâng cấp theo hướng xây dựng một vài trung tâm cấp vùng, quốc gia để làm hạt nhân với hệ thống vệ tinh liên kết chặt chẽ hơn, theo hướng hình thành các “Cluster”, đặc biệt là cần “kết nối liên hoàn” trong nghiên cứu – đào tạo - ứng dụng sản xuất – chế biến và tiêu thụ.

Một số trở ngại trong việc phát triển kinh tế trang trại gắn với hình thành các Cluster trong nông nghiệp

Nghiên cứu quá trình sản xuất lúa gạo, trái cây, tôm, cá tra hàng hóa ở ĐBSCL, nổi lên xu hướng chủ đạo thời gian qua là:
(1) Chủ yếu khai thác tiềm năng, điều kiện tự nhiên thuận lợi của vùng, vài thập kỷ qua có những tiến bộ nhất định trong công tác giống, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, có chú ý đến liên kết, nhưng chủ yếu ở khâu tiêu thụ như hợp đồng tiêu thụ nông sản, nhưng thực tế còn nhiều vướng mắc.
(2) Cơ sở hạ tầng yếu kém, sản xuất manh mún làm tăng suất đầu tư, thiếu chủ động trong sản xuất, lệ thuộc thời tiết, điều kiện tự nhiên nhiều, tính cạnh tranh của hàng hóa nông sản thấp. Giá trị gia và hàm lượng chất xám trong sản phẩm “lúa gạo, trái cây, tôm, cá tra” chưa được coi trọng.
(3) Chuỗi liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo, ứng dụng sản xuất – công nghệ sau thu hoạch, tồn trữ - chế biến – tiêu thụ (xuất khẩu và thị trường nội địa) chưa chặt chẽ.
(4) Cả 3 sản phẩm hàng hóa mũi nhọn này đang đứng trước thách thức, kể cả những áp đặt hàng rào kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn môi trường của các quốc gia và một số tổ chức quốc tế, không loại trừ những thủ đoạn cạnh tranh như áp giá thuế cao, vụ WWF đưa cá tra, tôm Việt Nam vào “Sách đỏ” là một thí dụ.

Một kiến nghị:

 (1) Chính sách đất đai cho trang trại:
- Luật đất đai hiện hành đã là “chiếc áo chật” với hai nhược điểm là hạn điền tối đa 6 ha/hộ, thời gian sử dụng 20 năm là cản trở trong tích tụ ruộng đất, doanh nghiệp, trang trại gặp nhiều khó khăn xây dựng nhà máy, vùng nguyên liệu. Đặc biệt, đối với trang trại, yêu cầu tích tụ đất đai với qui mô lớn hơn nhiều kinh tế hộ, “chiếc áo pháp lý” này còn chật chội hơn. Có thể nghiên cứu chính sách tích tụ ruộng đất cho các trang trại mà người nông dân, hộ gia đình “không mất đất” thông qua cơ chế pháp lý “cổ phần quyền sử dụng đất” được qui định trong Luật đất đai sửa đổi.  
(2) Vấn đề “an ninh lương thực” chưa được lý giải một cách thấu đáo, chưa có sự phân biệt giữa người sản xuất lúa gạo cho mục tiêu an ninh lương thực với người sản xuất lúa gạo cho mục tiêu thương mại dẫn đến việc Nhà nước chưa có chính sách đãi ngộ hợp lý cho “những người lính” làm nhiệm vụ an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế trang trại trong lĩnh vực sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL cũng không nằm ngoài trở ngại này. Mặc dù Chính phủ đã ban hành nghị định về xuất khẩu gạo, đang dự thảo lấy ý kiến ban hành Nghị định về bảo vệ đất lúa, nhưng cần tiếp tục đổi mới chính sách, công tác quản lý, qui hoạch trồng lúa, điều hành XK gạo theo hướng đem lại quyền chủ động và nhiều lợi ích hơn cho người nông dân, tránh bệnh thành tích; đồng thời cũng khuyến khích các trang trại trong ngành sản xuất lúa ĐBSCL phát triển xứng tầm của vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất nước.

(3) Việc xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là qui hoạch, xây dựng phát triển hạ tầng nông thôn … cần gắn với yêu cầu tạo điều kiện, hỗ trợ cho kinh tế trang trại phát triển.
(4) Chương trình đào tạo nghề cho nông dân, việc đầu tư hỗ trợ phát triển hệ thống chuyển giao khoa học, kỹ thuật, công nghệ cần gắn với yêu cầu đầu vào, đầu ra của kinh tế trang trại – vừa là đối tượng, vừa là động lực – nhất là hệ thống giống, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp thế mạnh của vùng: lúa gạo, trái cây, thủy sản.

Tóm lại, với thực trạng như phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy, ĐBSCL vẫn nên tiếp tục phát huy lợi thế trong nông nghiệp, thủy sản và chế biến nông, thủy sản. Tuy nhiên, cần khuyến khích, hỗ trợ việc hình thành các mô hình liên kết dạng “Cluster” trong nông nghiệp, ngoài các nhân tố cấu thành các Cluster nông nghiệp, cần quan tâm phát triển kinh tế trang trại. Điều này có nghĩa, trong thời gian tới, chuyển dịch cơ cấu cần quan tâm đến chuyển dịch cơ cấu trong nội ngành (cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) theo hướng nâng cao hiệu quả việc sử dụng nguồn lực xã hội, tập trung phát triển các sản phẩm lúa, thủy sản, cây ăn trái trong nông nghiệp, chế biến nông, thủy sản trong công nghiệp và các dịch vụ  cần thiết để phát huy thế mạnh của nông nghiệp trong Vùng.





[1] Báo Cần Thơ số 06-12-2010.
[2] Báo cáo Hội nghị giao ban ngành công thương 13 tỉnh ĐBSCL tháng 11-2010






[1] Phó Chánh Văn phòng BCĐ Tây Nam Bộ, Ủy viên Ban Chỉ đạo Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét