23 tháng 6, 2012

Xóa bỏ các rào cản hạn chế hiệu quả đầu tư

Đầu tư lưới điện ở ĐBSCL
Từ thực tiễn đầu tư ở các địa phương trong cả nước cũng như rà soát tình hình đầu tư tại các Bộ, ngành đang chỉ ra rất nhiều những rào cản làm giảm hiệu quả đầu tư của nền kinh tế. Việc xóa bỏ hệ thống rào cản này đối với nâng cao hiệu quả đầu tư giai đoạn 2011-2020 được các chuyên gia đánh giá cần được tiến hành với sự nhất quán về mục tiêu, định hướng và giải pháp. Trong đó, thực hiện đồng bộ các giải pháp xóa bỏ rào cản được coi là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư cho nền kinh tế trong những năm tới.

* Xuất phát từ 4 nhóm rào cản
Điểm lại đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy có 4 nhóm rào cản xuất phát từ cơ chế quản lý kinh tế, từ tổ chức hệ thống kinh tế, từ các yếu tố đầu vào của sản xuất và từ bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư đang làm giảm hiệu quả đầu tư của toàn bộ nền kinh tế. Cụ thể 18 khu kinh tế trọng điểm hiện mới chỉ thu hút được khoảng 20-30% mức đầu tư mong muốn. Hơn 260 khu công nghiệp chỉ đạt mức phủ đầy 40% diện tích. Các công trình trọng điểm chậm tiến độ so với dự tính. Chất lượng các công trình cũng rất nhanh xuống cấp. Nhiều dự án đầu tư không thể tiến hành do bị vướng giải phóng mặt bằng nên vốn đầu tư không được phát huy....Trong khi toàn bộ nguồn vốn và hoạt động đầu tư nhằm tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế đều ưu tiên tập trung vào các trọng điểm kinh tế này.

Điều này đã thể hiện cơ chế phân cấp hiện nay đang trở nên không phù hợp, chưa đi liền với tăng cường năng lực đầu tư cho một số địa bàn. Xu thế phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương trong quản lý đầu tư là xu thế đã được khẳng định. Trong khi đó, quản lý nhà nước về đầu tư công chưa thật sự đồng bộ, thông suốt giữa ra quyết định đầu tư, theo dõi đầu tư và quản lý vận hành. Hơn nữa, quá trình quản lý vận hành sau đầu tư cũng chưa được quy định chặt chẽ đã tạo nên những bất cập trong theo dõi, đánh giá và kiểm tra, giám sát. Hệ quả là, các địa phương rất khó nắm bắt các chỉ số quan trọng như tổng giá trị đầu tư trên một địa bàn cụ thể trong khoảng thời gian một năm, một quý hoặc một tháng. Các nguồn vốn có nguồn gốc từ nước ngoài cũng thường đi kèm theo những ràng buộc ngày càng trở thành rào cản đối với hiệu quả đầu tư. Nguồn vốn FDI luôn luôn bị phụ thuộc vào công nghệ của quốc gia có nguồn vốn đầu tư. Đặc biệt, hiện tượng chuyển giá đã xảy ra đối với nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thí điểm phương thức hợp tác công tư (PPP) là bước đi đúng hướng nhưng khi triển khai trên thực tế còn phải giải quyết rất nhiều nội dung.

Một trong những hạn chế cơ bản tạo ra rào cản nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển là cho tới nay vẫn chưa có chiến lược phát triển tổng thể các ngành kinh tế ở tầm quốc gia. Trong khi đó, những bất cập trong quy hoạch đã làm cho đầu tư vừa bị dàn trải, vừa manh mún nhưng không bị chế tài. Hạ tầng cơ sở hiện còn yếu kém đã trở thành điểm nghẽn của nền kinh tế cũng chính là rào cản lớn nhất của việc nâng cao hiệu quả đầu tư.

Đề cập đến hệ thống tài chính tiền tệ và thị trường vốn hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp nhận thấy chưa đáp ứng được yêu cầu định hướng và dẫn dắt nguồn vốn tới các khu vực kinh tế và dự án đầu tư có hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực quản lý trong các dự án, trong các doanh nghiệp vừa thiếu, vừa yếu, không đáp ứng được đòi hỏi của phân cấp đầu tư.

Cùng với những rào cản về cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư hiện nay cũng có một số yếu tố trở thành rào cản đối với hiệu quả đầu tư. Bộ máy quản lý nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế đã và đang được đặt lẫn lộn với bộ máy hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước, tạo điều kiện để cán bộ nhà nước coi trọng quản lý kinh doanh hơn so với quản lý nhà nước. Phần lớn các Bộ đều chỉ thực thi chức năng quản lý nhà nước đối với các đơn vị thuộc Bộ. Điều này làm nảy sinh hai khiếm khuyết lớn trong quản lý nhà nước đối với ngành. Một là những đơn vị thuộc ngành nhưng không trực thuộc Bộ thì nằm ngoài phạm vi đầu tư của Bộ. Hai là những đơn vị ngoài ngành nhưng trực thuộc Bộ thì vẫn được Bộ chăm lo đầu tư phát triển.

* Rà soát từ chiến lược và quy hoạch
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhằm xóa bỏ các rào cản nâng cao hiệu quả đầu tư phải bắt đầu từ rà soát, sửa đổi, bổ sung và trình ban hành các chiến lược phát triển kinh tế phạm vi cả nước, các vùng và vùng kinh tế trọng điểm, tỉnh, huyện, xã hoặc chiến lược phát triển các ngành; chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh ngành, sản phẩm. Việc rà soát này phải được hoàn thành trong các năm 2012, 2013. Sau 2013 sẽ thường xuyên theo dõi, đánh giá việc thực hiện theo cấp độ của từng chiến lược. Trong quy hoạch, không chỉ tăng cường tính thống nhất của các quy hoạch, trước hết là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch sử dụng đất, mà còn công khai các dự án quy hoạch, tăng cường kiểm tra, thanh tra quản lý xây dựng và kế hoạch sử dụng đất đai ở một số địa phương. Giải pháp về quy hoạch được bắt đầu từ việc trong năm 2012-2013 nghiên cứu, ban hành Luật Quy hoạch và các văn bản hướng dẫn. Trên cơ sở đó, các Bộ, ngành theo chức năng và nhiệm vụ của mình tổ chức nghiên cứu các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy hoạch trong ngành, lĩnh vực chuyên môn tương ứng trước năm 2015. Sau 2015, theo từng chu kỳ của quy hoạch được phê duyệt, các quy hoạch được cập nhật, bổ sung theo quy định của Luật Quy hoạch và các văn bản hướng dẫn.

Về cơ chế phân cấp quản lý đầu tư sẽ thực hiện mạnh mẽ theo nguyên tắc chỉ quyết định đầu tư nếu bố trí được vốn, gắn trách nhiệm cá nhân với quyết định đầu tư, tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời xử lý các sai phạm phát sinh nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn đầu tư. Giải pháp về phân cấp quản lý đầu tư được đặt trong tổng thể nghiên cứu, xem xét, sửa đổi Nghị quyết 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 về tăng cường phân cấp giữa Chính phủ, UBND tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương. Việc này phải được hoàn thành trước năm 2014, trên cơ sở đó triển khai giám sát phân cấp đầu tư một cách đầy đủ nhất.

Bên cạnh đó, chú trọng sử dụng các nguồn vốn đầu tư nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí việc sử dụng nguồn vốn đầu tư, đồng thời tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đảm bảo huy động cao nhất các nguồn lực cho đầu tư phát triển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Các giải pháp về tăng cường các nguồn vốn đầu tư cần được đưa ra trước năm 2015. Các cơ chế chính sách mới như tài chính hóa các nguồn lực đất đai, bất động sản cần được thử nghiệm trong những năm 2012-2013 và tổng kết, đánh giá trước năm 2015. Đồng thời áp dụng nghiêm ngặt các chế tài trong giám sát thi công, nghiệm thu, thanh quyết toán công trình nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời việc thi công không đúng thiết kế, không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng vật liệu theo quy định hay khối lượng xây lắp theo thiết kế được duyệt, lập quyết toán không đúng thực tế thi công để “rút ruột công trình” làm ảnh hưởng tới chất lượng công trình. Cơ chế, chính sách tiền kiểm, hậu kiểm, đặc biệt là hậu kiểm cần được tổng kết, đánh giá trong năm nay và hoàn thành hệ thống công cụ trước năm 2015.

Cùng với việc sắp xếp cán bộ có đủ năng lực, chuyên môn và khả năng quản lý, điều hành các dự án đầu tư nhằm tránh thất thoát, lãng phí; triển khai thực hiện quy hoạch nhân lực đến năm 2020 tại các ngành, địa phương cần rà soát, đánh giá và phân loại cán bộ quản lý đầu tư theo chu kỳ 3-5 năm/lần. Trước mắt, trong các năm 2013-2015 cần có chương trình đào tạo lại các cán bộ trong hệ thống này để đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư trong giai đoạn mới.

Một giải pháp không kém phần quan trọng là thực hiện Đề án Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trước mắt thực hiện và hoàn thành cổ phần hóa 89 doanh nghiệp độc lập thuộc Bộ, 239 doanh nghiệp thuộc địa phương quản lý, tập trung vào các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ và du lịch. Mặt khác, triển khai chương trình ưu tiên đầu tư phát triển các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh như chế biến lương thực, thực phẩm; nuôi trồng và chế biến hải sản; sản xuất giống và thức ăn chăn nuôi; sản xuất thiết bị, máy móc và phụ tùng phục vụ sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản thực phẩm; luyện kim và hóa chất... nhằm tạo động lực để phát triển kinh tế.
MAI PHƯƠNG (TTXVN)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét